Gốm sứ Bát Tràng

Danh mục

Giới thiệu về làng nghề gốm Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội

Làng nghề gốm sứ Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm được sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát (鉢) là bát ăn của nhà sư (tiếng Phạn là Patra). chữ Tràng (場, còn đọc là Trường) nghĩa là “cái sân lớn“. là mảnh đất dành riêng cho chuyên môn. Theo các cụ già trong làng kể lại, chữ Bát bên trái là bộ “Kim-金” ví với sự giàu có. “本-bản” có nghĩa là cội nguồn, nguồn gốc. Dùng chữ Bát như vậy để khuyên răn con cháu “có nghề có nghiệp thì cũng không được quên gốc“. Hiện nay, tại các đình, đền và chùa ở Bát Tràng đều vẫn còn các chữ Bát Tràng được viết bằng chữ Hán là 鉢場.

Giới thiệu về làng nghề gốm Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội

Vị trí địa lý làng nghề Bát Tràng

Làng gốm Bát Tràng nằm ở ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Bát Tràng, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cách trung tâm thành phố Hà Nội hơn 10km về phía Đông Nam. Đây là làng nghề truyền thống nổi tiếng về các sản phẩm gốm sứ.

Bản đồ chỉ đường đi sang làng nghề Bát tràng

Bản đồ chỉ đường đi sang làng nghề Bát tràng

Làng nghề này được hình thành từ thời nhà Lý. Trải qua hơn 500 năm lịch sử với bao biến cố thăng trầm. Cùng thời gian nhưng cái tên Bát Tràng vẫn tồn tại và ngày càng phát triển cho đến tận bây giờ. Qua nhiều thời gian các hộ gia đình tại Bát Tràng cũng thành lập Hiệp Hội Gốm Sứ để ” Xây dựng tôn tạo phát triển nghề gốm truyền thống “

Lịch sử phát triển làng gốm Bát Tràng

Năm 1958 nhà nước làm công tư hợp doanh, chuyển đổi công ty gốm Trường Thịnh thành Xí nghiệp sứ Bát Tràng, thuê công nhân thôn Bát Tràng vào làm việc. Với cơ sở vật chất đầy đủ, nhân công Bát Tràng được thử nghiệm, thực hành, sáng tạo trên cơ sở sự chịu khó, cần cù đã tạo nên được một thế hệ có tay nghề gốm vững chãi.

Cùng lúc đó một số hợp tác xã như Hợp Thành (1962), đóng ở phần đất gần với xã Đa Tốn, Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984) Xí nghiệp X51, X54 (1988)… Các cơ sở sản xuất trên cung cấp hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mĩ nghệ và một số hàng xuất khẩu. Những nghệ nhân nổi tiếng như của Bát Tràng như Đào Văn Can, Nguyễn Văn Khiếu, Lê Văn Vấn, Lê Văn Cam,Trần Hợp

Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế thị trường. Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần. những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình. Xã Bát Tràng nay đã trở thành một trung tâm gốm lớn.
Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng.

Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu. Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc

Xưởng gốm Bát Tràng

Trong những năm gần đây Xưởng gốm Bát Tràng phát triển nhanh tróng nhờ kinh tế đất nước đi lên. Nhu cầu sử dụng hàng gốm sứ tăng cao. Chính vì thế các Xưởng gốm phát triển ngày càng hưng thịnh. Các xưởng gốm lớn tại bát tràng như Hiệp Hội Gốm Sứ tại 166 Giang Cao Bát Tràng.

Xưởng gốm sứ Bát Tràng tại Hiệp Hội Gốm Sứ 166 Giang Cao Bát Tràng,Gia Lâm, Hà Nội

Du lịch làng nghề Bát Tràng

Đi đến Làng Gốm Bát Tràng như thế nào?

  • Đi xe bus: có lẽ là tiện nhất và rẻ nhất. Từ các điểm trong thành phố Hà Nội bạn đi xe bus ra bến trung chuyển Long Biên. sau đó bắt xe bus số 47 đi Bát Tràng. Lên xe và ngồi ung dung cho tới làng gốm.
  • Đi xe máy: hoặc phương tiện cá nhân khác: bạn qua cầu Chương Dương hoặc cầu Vĩnh Tuy, cầu Thanh Trì. Sau đó rẽ phải đi men theo đê Sông Hồng, khi nào gặp biển báo làng gốm Bát Tràng thì là tới. Rất dễ đi.
  • Đi đường Sông: cuối tuần đều có chuyến du lịch Sông Hồng bằng đường sông đi qua làng Gốm Bát Tràng, đền Chử Đồng Tử. Giá tour này khoảng 350k – 400k / khách. Bạn hỏi rõ lịch trình xem có đi qua Bát Tràng không nhé.

Đến Bát tràng ăn gì?

Đến Bát tràng ăn gì? Quán phở tại 32 Giang Cao Bát Tràng
  • Khu vực Chợ Bát Tràng có các loại bánh tẻ giá 6000 VND/Chiếc đặc sản của Bát Tràng. Hoặc bánh sẵn 5000vnd/chiếc.
  • Ăn phở ngay đầu làng 32 Giang Cao

Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng

In logo ấm chén bát tràng

Bát tràng nổi tiếng với nghề in logo lên ấm chén cốc sứ. Các sản phẩm in logo của Bát Tràng thường có chất lượng rất tốt về màu sắc. Thời gian bền màu và công nghệ in cao cấp.

Những mẫu in logo lên ấm chén

Những mẫu bộ ấm chén này thường bao gồm 1 ấm 6 chén. Kèm địa giá in thường là 160,000vnd/ bộ

In logo cốc sứ lọ hoa bát đĩa ly cafe tại làng Bát Tràng

Tượng bát tràng

Bát tràng nổi tiếng với nghề làm tượng gốm sứ cả nước và thế giới về chất lượng sự tinh xảo đặc biệt là mỗi bức tượng là một nghệ nhân vẽ tay tạo ra hồn riêng cho mỗi bức tượng. Hiện tượng gốm sứ nổi tiếng nhất tại Hiệp Hội Gốm Sứ 166 Giang Cao Bát Tràng .

Ý nghĩa của tượng phật Di Lặc gốm sứ – Ý nghĩa của Hạnh Viễn Mãn

Bồ Tát Di Lặc được coi là vị Phật thứ 5. Vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái đất sau khoảng 30.000 năm nữa. thay thế Phật Thích ca Mâu Ni. Trong Phật giáo Tây Tạng, Di Lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Ở thế giới hiện đại, hình ảnh vị Phật này hiện hữu khắp mọi nơi: cửa hàng, khách sạn, nhà riêng, chùa chiền.

Trong tượng Phật Di Lặc thường ngồi trên ngai vàng, chân bắt chéo hoặc đặt xuống sàn, với hàm ý sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh. Ở những hình ảnh ban đầu, Di Lặc được mô tả như một vị hoàng tử thanh mảnh, tuấn tú, thường mặc trang phục hoàng gia Ấn Độ.

10 bức tượng Đạt Ma Sư Tổ đẹp

Đạt Ma Sư Tổ hay còn gọi là Bồ Đề Đạt Ma  chữ hãn là (zh. 菩提達磨, sa. bodhidharma, ja. bodai daruma). Dịch nghĩa là Đạo pháp (zh. 道法), 470-543. Ông được coi là người truyền bá và sáng lập ra Thiền học và Võ thuật tới Trung Quốc. Theo truyền thuyết Trung Quốc. Ông đã truyền thụ phương pháp rèn luyện thân thể cho các nhà sư Thiếu Lâm. Dẫn đến việc hình thành môn võ Thiếu Lâm. Ông cũng là cha đẻ của Thiền Phật giáo Trung Quốc. Tìm hiểu thêm Đạt Ma Sư Tổ wiki

Tượng Tam Đa Phúc Lộc Thọ

Phúc – Lộc – Thọ hay còn có tên gọi khác là Phước – Lộc – Thọ. Đây cũng là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong văn hóa của người Trung Quốc. Nó còn được lan rộng tới những nền văn hóa chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc trong đó có Việt Nam. Tam đa Phúc – Lộc – Thọ được trang trí nhiều trong ngôi nhà Việt. Mong ước khi đặt tượng Tam đa Phúc – Lộc – Thọ là hi vọng về sự may mắn, sức khỏe và thành công. Ngoài ra, con cháu tặng tượng Tam đa cho cha mẹ với hi vọng về sự trường thọ. Cùng tìm hiểu về bộ tượng Tam đa Phúc – Lộc – Thọ qua bài viết dưới đây. tìm hiểu thêm về Phúc Lộc Thọ

Ngoài ra làng nghề Bát Tràng còn làm các dòng tượng nổi tiếng như 18 Vị La Hán, Tượng Phật, và đặt sản xuất tượng theo yêu cầu khách hàng.

Lọ lục bình Bát tràng

Theo các chuyên gia nghiên cứu về phong thủy. Nếu bạn muốn trưng bày Lọ lục bình phong thủy thì tốt nhất bạn nên chọn chất liệu bằng gốm sứ. Lọ lục bình gốm sứ không chỉ là vật dụng để trưng bày và trang trí. Đây còn là sản phẩm mang nét đặc trưng và độc đáo mà mỗi gia đình.

Mỗi đôi Lọ lục bình gồm 2 chiếc đi kèm nhau ( còn được gọi là song bình, để song song với nhau). Ngày nay, tại xưởng sản xuất gốm Bát Tràng, trước khi được đưa qua lò để nung chín. thì mỗi chiếc Lọ lục bình dường như đều mang ” hồn “, mang ” chất ” riêng biệt mà không sản phẩm nào có được

Kích thước Lục Bình

Tổng chiều cao: 1,58 mét ( Chiều cao lọ: 1,45 mét + Chiều cao đôi chân đế bằng sứ 1,3 cm ). Tổng chiều cao: 1,78 mét ( Chiều cao lọ: 1,65 mét + Chiều cao đôi chân đế bằng sứ 13 cm ). Tổng chiều cao: 1,85 mét ( Chiều cao lọ: 1,72 mét + Chiều cao đôi chân đế bằng sứ 13 cm )

Sản xuất lọ lục bình tại Hiệp Hội Gốm Sứ 166 Giang Cao Bát Tràng

100 Mẫu lọ Lục Bình gốm sứ đẹp

Đồ thờ Bát Tràng

Đồ thờ Bát Tràng nổi tiếng nhờ sự đa dạng và tinh sảo được cung cấp trên toàn quốc.

Xưởng sản xuất đồ thờ tại Hiệp Hội Gốm Sứ Bát Tràng 166 Giang Cao,Gia Lâm. Gốm Bát Hương, Lư Hương, Mâm Đồng, Lọ nhang ống hương đèn dầu.

Tranh gốm sứ Bát Tràng

Làng Nghề Bát Tràng là cái lôi tinh túy trong sản xuất tranh gốm sứ và nổi tiếng với các loại tranh sau:

Quá trình sản xuất tranh tại Bát Tràng của các nghệ nhân là hoàn toàn bằng tay.

Bộ đồ ăn Bát Tràng

Lọ hoa sứ

Đèn xông tinh dầu Bát Tràng

Chum đựng gạo rượu lu nước gốm sứ bát tràng

Chất men gốm sứ Bát Tràng qua các thời kỳ

Tên tuổi của làng gốm sứ Bát Tràng là sự hun đúc của hàng trăm năm lịch sử, của truyền thống dân tộc. Từ thế kỷ 14 đến nay, Bát Tràng đã trải qua bao thời kỳ, bao đổi thay và mỗi thời kỳ gốm sứ Bát Tràng lại có thêm một màu men mới, tạo nên những nét đặc sắc của gốm sứ Bát Tràng.

Ấm chén Bát tràng có 5 loại men chính đặc trưng cho mỗi thời kỳ khác nhau. Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về những nét đặc sắc của các loại chất men Bát Tràng qua các thời kỳ.


1. Gốm sứ men lam

Gốm sứ men lam bắt đầu xuất hiện từ hồi thế kỷ 14. Vào thời kỳ này, những nghệ nhân Bát Tràng xưa thường dùng bút long làm dụng cụ vẽ lên các sản phẩm bằng gốm sứ. Điểm đặc trưng của ấm chén men lam là các bộ ấm chén này không để trần như men nâu mà phải phủ thêm lớp men màu trắng lên phía bên ngoài và có hoạ tiết màu xanh hay xanh đen.

Men lam được dùng phổ biến việc vẽ trang trí trên các loại đồ gốm, lư hương, bình hoa, lọ lộc bình,… để trên ban thờ và cực hiếm xuất hiện ở các bộ ấm chén.

Lịch sử gốm sứ men lam qua các thời kỳ:

+Thế kỷ 14-15: Gốm sứ men lam có sắc từ xanh chì đến xanh sẫm, xanh đen với đặc trưng là trên thân sản phẩm có lối vẽ phong bút, thường vẽ tranh phong cảnh, hoa dây lá hay vẽ rồng.


+ Thế kỷ 16: Vào thời kỳ này gốm sứ men lam thường có sắc xanh đen với hoa văn vẽ mây kết hợp với trang trí hình rồng nổi, hình cánh sen…


+ Thế kỷ 17: Lúc này, ấm chén men lam đã xuống dốc và dần bị ấm chén men nâu thay thế.


+ Thế kỷ 18: Đây là thời kỳ đỉnh cao của ấm chén men rạn và sự kết hợp men rạn để trang trí nổi với vẽ trên chân đèn đã làm sống dậy ấm chén men lam tại làng nghề Bát Tràng.


+ Thế kỷ 19: Ấm chén men lam bắt đầu được sử dụng trở lại nhưng chủ yếu là dùng để vẽ hoạ tiết trên các lư hương, chóe bày, bình hoa, lọ lộc bình, bát hương hay nậm rượu phủ men rạn trắng với phong cách trầm lắng.

2. Gốm sứ men nâu

Men nâu hay còn gọi là men bã trầu, là một loại men không được bóng, trên trên bề mặt men thường có vết sần do vậy những người thợ làm gốm Bát Tràng người thợ gốm Bát Tràng thường sử dụng men nâu để vẽ lên trên lớp men màu khác để chuyển đổi màu men nâu.

Màu nâu thường được ưa chuộng nhiều với các loại ấm chén uống trà bởi lẽ nó mang phong cách hoài cổ do đó màu men nâu chủ yếu được áp dụng cho các sản phẩm bộ ấm chén trà.

Lịch sử gốm sứ men nâu qua các thời kỳ:

+ Thế kỷ 14 – 15: Gốm sứ men nâu thường được dùng để tô lên các đồ trang trí kết hợp với màu men nền trắng ngà để chuyển men nâu sang màu vàng nâu.

+ Thế kỷ 16 – 17: Gốm sứ men nâu thường được sử dụng xen lẫn với men ngọc, men ngã để tạo ra các sắc độ khác nhau. Đặc trưng của sản phẩm gốm sứ men nâu thời kỳ này là vẽ các đường chia băng, tô hoa sen hoặc hình rồng, tô chân đế lư hương….

+ Thế kỷ 18: Thời kỳ này các nghệ nhân Bát Tràng lại tiếp tục sử dụng các loại men nâu theo phương pháp cổ truyền.


+ Thế kỷ 19:
Ở giai đoạn này, gốm sứ  men nâu đã chuyển sắc thành một loại men bóng chứ không còn sần sùi như trước và loại men này vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.


3. Gốm sứ men trắng ngà

Men trắng ngà là loại men được sử dụng rộng rãi trong các loại ấm chén Bát Tràng và các loại đồ gốm khác. Đặc điểm của loại men này đó là có thể kết hợp với nhiều loại men khác cho ra hiệu quả thẩm mỹ cực cao.

Lịch sử gốm sứ men trắng ngà qua các thời kỳ:


+ Thế kỷ 17: Men trắng ngà được sử dụng rộng rãi vào khoảng thời gian này, đặc biệt là trên các sản phẩm chạm trổ, dán ghép. Lúc này, men trắng ngà thường được sử dụng trên các lư hương nhưng chỉ phủ trên các rìa, ức và đường viền ngoài phần trang trí nổi chứ ít khi phủ lên hình trang trí.


+ Thế kỷ 18 – 19:  Ở thời kỳ này, gốm sứ Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc nên men ngà thường hay được sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương, tượng tròn và các bộ ấm chén uống trà Bát Tràng nhưng cho hiệu quả thẩm mỹ không cao.


4. Gốm sứ men ngọc – men ngà

Là loại men đặc biệt tạo ra sự sang trọng, danh giá nên men ngọc, ngà thường được ưa chuộng trong các thời kỳ vua chúa, cung đình. Đặc biệt ngày nay loại men này còn hấp dẫn khách hàng hơn bởi vẻ đẹp kiêu sa và sang trọng giúp tô điểm thêm cho sự tôn nghiêm của phòng khách.

Men ngọc thường xuất hiện nhiều nhất trên các chân đèn và ngày nay thì thường được áp dụng cho các bộ ấm chén cao cấp.

Lịch sử phát triển của gốm sứ men ngọc – men ngà:

Khác với các loại men khác có thời kỳ phát triển và suy thoái, gốm sứ men ngọc – men ngà trường tồn từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 19 và thường được sử dụng trên các chân đèn men ngọc tô bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cách sen, các hình rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai… và đặc biệt thường thấy trên các bộ ấm chén Bát Tràng cao cấp.

5. Gốm sứ men rạn


Gốm sứ men rạn được tạo ra từ chênh lệch về độ đo xương gốm và men tạo nên những nét rạn giả cổ. Đây là loại men cuối cùng trong các loại men gốm sứ Bát Tràng.

Lịch sử phát triển của gốm sứ men rạn:

 Gốm sứ men rạn được sản xuất ở thế kỷ 16, kéo dài tới thế kỷ 20 và đến bây giờ vẫn phát triển vô cùng mạnh mẽ với các sản phẩm cao cấp như bình hoa, lư hương và đặc biệt trên các sản phẩm ấm chén Bát Tràng.


Trên đây là 5 loại men gốm sứ Bát Tràng được dùng qua các thời kỳ.  Hy vọng sau bài viết này bạn sẽ biết thêm nhiều kiến thức về các loại men của Bát Tràng và chọn được cho mình loại màu men phù hợp với gia đình.